Cúng “Ôn chít” được tổ chức thường xuyên và liên tục mỗi năm một lần vào ngày mười lăm tháng 9 Âm lịch, sau khi đã thu hoạch lúa xong. Nét độc đáo ở đây là trong một dòng họ chỉ tập trung tổ chức cúng ở một gia đình, mỗi năm một nhà bắt đầu từ nhà ông trưởng họ rồi cứ thế theo vai vế cho đến hết lượt rồi lại quay về nhà trưởng họ. Lễ vật cúng tế được chủ nhà tổ chức lễ chuẩn bị sẵn sàng trong dòng họ mổ chung một con trâu, bò hay lợn...). Các gia đình còn lại khi đến nhà tổ chức cúng lễ ai cũng phải cầm theo trên tay 3 cây trít đá, một mảnh vải dải đỏ nhỏ dài từ 20 đến 30cm được cuốn 3 vòng quanh 3 cây chít. Nếu gia đình nào khá giả thì có thể mang thêm ít tiền, rượu đến góp lễ. Chờ cho mọi gia đình đến đông đủ thầy cúng sẽ đi sắp lễ. Cúng “Ôn chít” được tổ chức vào ban ngày từ 8h - 9h sáng ở ngoài trời ngay sau nhà. Trong khi cúng mọi người trong dòng họ đứng gọn vào một chỗ theo từng gia đình, ông trưởng họ tay cầm một đầu sợi chỉ lanh để thầy cúng cầm cuộn chỉ vừa cúng vừa đi vòng theo chiều kim đồng hồ, cuốn chung quanh tất cả mọi người, cứ như vậy cho đến hết bài cúng. Thầy cúng lại cúng lại và đi ngược chiều kim đồng hồ để tháo những vòng chỉ cuộn quanh mọi người trong dòng họ đó ra. Cứ như vậy đủ 3 vòng thì thầy cúng bắt đầu cầm bó chít của các gia đình mang đến bó lại bằng sợi vải đỏ, cắm chín nén hương lên bó trít và thầy cúng vác bó chít lên vai, lấy sợi chỉ đỏ vừa cúng vừa cuốn quanh bó chít đủ ba vòng rồi lại cúng và tháo sợi chỉ đó ra khỏi bó chít. Khi thầy cúng đã cúng xong ở ngoài trời thì mới các gia đình vào ngồi ở giữa nhà để tạ ơn thầy. Thầy cúng cần bát nước trên tay hớp một ngụm để xúc miệng rồi nhổ đi, hớp ngụm thứ hai thầy lẩm bẩm khấn, xong phun lên nóc nhà. Lúc này lễ cúng đã xong, mọi người nghỉ chuẩn bị bữa cơm tập trung ăn uống,chúc tụng nhau vui vẻ. Không mang nặng màu sắc mê tín như nhiều nghi lễ cúng tế của các dân tộc khác, tục cúng “Ôn chít” thể hiện khát vọng về một cuộc sống ấm no. Nghi lễ này của người Mông nhằm tạ ơn trời đất, thánh thần đã phù trì giúp đỡ đem lại cho họ mưa thuận gió hòa, vụ mùa bội thu, thóc gạo đầy nhà vào vụ gặt năm tới, cầu cho sự bình an của các gia đình, tránh được những tai ương ảnh hưởng đến mọi thành viên trong dòng họ và cả cộng đồng. |
Thứ Tư, 23 tháng 12, 2009
Tục cúng “Ôn chít” của người Mông Tây Bắc
Độc đáo sáo đinh tút của đồng bào Triêng (Quảng Nam)
Già làng Zơrâm Ớt 84 tuổi, dân tộc Triêng, hiện ở thôn Ðăk tà Vâng, xã La Dêê, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam cho biết, đinh tút được làm từ cây trúc, loại này mọc rất nhiều ở vùng của người Triêng sinh sống, nhưng không phải cây nào cũng làm được đinh tút đúng kỹ thuật và cho âm hay. Ðinh tút của người Triêng gồm có sáu ống dài ngắn và lớn nhỏ khác nhau được làm từ thân cây trúc.
Các ống đinh tút theo thứ tự từ lớn đến nhỏ và từ dài đến ngắn nhất: Piđu, piđy, chel, chắk, rơn 1, rơn 2. Mỗi cây đinh tút có một lóng và được giữ nguyên một mắt, đầu rỗng được vót hai bên tạo cho ống có dáng hình phễu để thổi. Muốn thổi được đinh tút, phải có sức khỏe và có kỹ thuật. Bộ đinh tút của họ hiện nay so với đinh tút truyền thống thì ống nhỏ và ngắn hơn, vì vậy có nhiều người biết thổi.
Muốn thổi đinh tút thông thường phải có từ tám người trở lên. Trong đó tám nghệ nhân thổi đinh tút tùy vào sở trường của từng người mà mỗi người phụ trách một ống, còn lại hai nghệ nhân hòa điệu cồng chiêng. Ðinh tút hay, hay dở là phụ thuộc vào người tạo ra nó, từ khâu chọn loại trúc đến việc thẩm âm là kinh nghiệm của nghệ nhân đó.
Ðinh tút là loại nhạc cụ không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt hằng ngày, trong lao động sản xuất, nhất là vào dịp mùa xuân. Ngoài ra, trong các dịp lễ hội của cộng đồng như: lễ lập làng, lễ mừng nhà mới, mừng cưới hỏi… và đặc biệt nó luôn có mặt trong lễ hội Choóc đăil truyền thống thường gọi là ngày hội đinh tút của người Triêng.
Già làng Zơrâm Ớt cho biết thêm: Tùy thuộc vào từng bài đinh tút mà người thổi hòa âm với nhau theo ba hoặc bốn cặp một. Trong quá trình thổi đinh tút thì cặp đinh tút ngắn và nhỏ nhất sẽ thổi trước, kế đến là cặp trung, rồi đến cặp dài nhất cùng hòa âm với nhau thành tám điệu, gọi là tám bài đinh tút tương ứng gồm: Za zá, pê lách, túk chiêng hoong, troong zục, trơn lăil, zức zăih… hòa cùng những điệu múa tạo nên một dòng chảy không dứt làm cho hội đinh tút luôn tiếp diễn.
Sự chuyển hóa linh hoạt của những bài đinh tút và sự uyển chuyển của các cô gái Triêng trong bộ trang phục truyền thống đẹp nhất, với các bài múa và những điệu sáo đinh tút vang lên bên những thung lũng hẹp, núi rừng vào hội tạo âm thanh giàu cảm xúc, phóng khoáng làm cho tâm hồn người Triêng luôn được thoải mái, nhẹ nhàng…
Tiếng sáo đinh tút thổi lên, âm thanh của nó cứ bay bổng, lan tỏa trên các triền núi cao nơi định cư lâu đời của người Triêng hòa cùng trống, cồng chiêng vào núi rừng đại ngàn tạo nên một không gian văn hóa huyền ảo, thôi thúc mọi người tạm gác mọi lo toan của cuộc sống đời thường để cầu mong một năm an lành, hạnh phúc, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và no đủ, mọi người thương yêu và đùm bọc nhau.
Ngoài công việc nương rẫy, những lúc rảnh rỗi, họ đều dành thời gian để truyền nghề cho lớp trẻ và mọi người đều thích thú học để thổi loại nhạc cụ độc đáo này. Ðến nay, các xã như: La Dêê, Ðăl Pre và Ðăk Pring đã hình thành nên nhiều đội đinh tút như: Ðội đinh tút làng Ðăktà Vâng, Ðăk Chờđây, Ðăk Lôi, Ðăk Hlôil, Ðăk Ôốc, Ðăk Rế…
Nếu có dịp đến các vùng của đồng bào Triêng sinh sống vào mùa lễ hội, du khách vẫn còn nghe tiếng sáo đinh tút mọi lúc mọi nơi cứ bay bổng ngân nga ăn sâu vào tiềm thức và là thông điệp gửi gắm những điều tốt lành cho cộng đồng người Triêng. Ðây là dấu hiệu đáng mừng của cộng đồng này trong việc bảo tồn và phát triển vốn âm nhạc truyền thống.
Cá - lễ vật đặc biệt trong đám cưới của người Thái
Người Thái là tộc người có truyền thống canh tác ruộng nước từ lâu đời. Địa bàn cư trú của họ thường ở các đồng bằng ven chân núi và làng bản quần tụ bên các sông suối. Với những nét đặc thù như vậy, đồng bào Thái đã hình thành nhiều phong tục, tập quán gắn với sông, suối và nền văn minh lúa nước như tục cầu mưa; tục té nước ngày xuân; tục thờ cúng thuồng luồng và những truyền thuyết tình yêu gắn liền với sông, suối...
Đồng thời, xưa kia do thuỷ sản trong các sông, suối rất nhiều, dễ khai thác nên nguồn thức ăn từ thuỷ sinh đã trở thành món ăn thường nhật của người Thái. Nhiều món ăn từ thuỷ sản được bà con chế biến theo cách riêng trở thành đặc sản và có những món đã vượt qua ý nghĩa ẩm thực thông thường để trở thành biểu trưng văn hoá trong lễ, tết, hôn nhân, tang ma...trong đó có món cá muối (pa bẳng) và món cá sấy (pa hắp) để tạo nên món “bẳng-hắp”, là món không thể thiếu trong số các lễ vật đám cưới của nhà trai mang sang nhà gái.
Món pa bẳng được làm từ những loại cá rất ngon như cá xỉnh, cá khuy hoặc cá chép. Cá được làm sạch và ướp với muối, riềng giã nhỏ, thính gạo rồi lèn chặt vào ống nứa to, lấy lá dong nút chặt lại để cá lên men. Khi chuẩn bị lễ vật mang sang nhà gái thì dùng những tấm nan đan mắt cáo bằng lạt mỏng buộc túm đầu miệng ống bằng lạt màu và quai xách cũng làm bằng lạt màu rất đẹp. Món pa hắp cũng được làm từ các loại cá nêu trên. Cá được làm sạch, ướp muối rồi xếp vào những chiếc giỏ nhỏ lót lá dong và làm giàn tre để sấy cá trên gác bếp. Khi chuẩn bị làm lễ vật dẫn cưới, người ta đan những chiếc giỏ nhỏ, có quai xách bằng dây vải thêu màu ngũ sắc rồi xếp cá vào đó. Cả món bẳng và hắp khi ăn đều phải nướng trên than hồng.
Vì sao đám cưới của người Thái không thể thiếu được món bẳng - hắp? Nhiều bà con dân tộc Thái cho rằng, hai món cá này rất ngon, cho nên khi nuôi con gái đến lúc gả chồng thì nhà gái bao giờ cũng muốn có những món “sơn hào hải vị” này để thết đãi bản làng. Những người có vai vế trong dòng họ, bản làng hoặc người ở xa đến dự đám cưới, khi trở về được hỉ chủ biếu cho món này mang về làm quà cho những người thân không đến được thì những người được nhận quà sẽ cảm thấy mình đã được gia chủ rất quý mến và kính trọng.
Bên cạnh ý nghĩa rất thực dụng nêu trên thì cũng có những cách giải thích khác mang nặng ý nghĩ tâm linh đối với món bẳng-hắp trong lễ cưới. Họ cho rằng, món cá ướp trong ống nứa và sấy khô trên gác bếp là lễ vật biểu trưng cho mối quan hệ âm dương, để cho đôi vợ chồng sau khi cưới có được cuộc sống hoà hợp như cá với nước. Cá là con vật sống dưới nước, sinh sôi nảy nở nhiều. Vì vậy, món cá bẳng-hắp bắt buộc phải có trong lễ vật đám cưới để dâng cúng tổ tiên, thần linh và thết đãi dân làng còn chứa đựng cả những ước muốn của con người sau khi kết hôn sẽ sinh con đẻ cái thuận lợi và làm ăn phát triển...
Với những ý nghĩa trên khiến cho món bẳng-hắp luôn được nhà gái “thách cưới” khi hai bên cùng phán cưới chứ không phải nhà trai muốn mang đến nhà gái bao nhiêu cặp bẳng-hắp thì tuỳ tâm. Đồng thời, số lượng bẳng-hắp khi dẫn lễ cưới, bắt buộc phải làm thành từng cặp theo số chẵn. Nếu nhà nào có hoàn cảnh khó khăn mà không chuẩn bị được nhiều bẳng-hắp mang đến nhà gái thì có thể thương thảo xin rút bớt.
Văn hóa ẩm thực của người Khmer Sóc Trăng
Điểm đặc trưng của người Khmer là định cư chủ yếu ở vùng nông thôn, trên những giống đất cao mà người Khmer gọi là "đây tuổi".
Đó là vùng sản xuất nông nghiệp, với cây lương thực chủ yếu là lúa. Ngày nay, có trên 90% số dân Khmer chuyên sống bằng nông nghiệp, chủ yếu là sản xuất lúa gạo và các loại hoa màu. Các loại nông sản này vừa là nguồn cung cấp lương thực vừa là nguồn thức ăn cho việc chăn nuôi của họ. Từ gạo nếp, họ đã biết chế biến các loại cơm và xay thành bột để làm các loại bánh.
Trước đây, cơm được dọn trên chõng tre, đặt ở nhà bếp. Đàn ông lớn tuổi ngồi xếp bằng, nhỏ tuổi ngồi ở tư thế hai chân xếp thành một góc vuông (đều co lại, một chân sát đệm, một chân dựng lên), phụ nữ thì ngồi xếp "chè he" (hai chân co lại và xếp về một bên cho kín đáo). Ăn, người Khơ-me cũng dùng đũa như người Việt, người Hoa, nhưng người nào ăn xong, thì hai tay cầm đôi đũa lên ngang trán, xá ba xá biểu thị lòng biết ơn người làm ra vật thực.
Ngoài việc chế biến thức ăn tươi, họ còn luộc chín, phơi khô hoặc làm mắm để dự trữ lâu ngày. Đặc biệt, với người Khmer, mắm vừa là thức ăn vừa là gia vị chính trong chế biến món ăn. Việc làm mắm cũng có nhiều loại, mỗi loại đều có kỹ thuật rất công phu. Ví dụ: Làm mắm "prôchôc", một loại mắm được người Khmer ưa dùng và được dùng gần như hằng bữa.
Cách làm loại mắm này là cá lóc tươi. Sau khi đánh vẩy, mổ bụng lấy ruột ra, rửa sạch nhớt, nhưng phải đem ngâm nước lạnh một đêm cho cá sình lên, biến chất không có máu, rồi rớt ra, đem phơi nắng cho ráo nước; lúc bấy giờ mới ướp muối, trộn với cơm nguội, cho vào hũ, khạp, đổ nước muối nấu để nguội cho ngập cá rồi dằn mo cau lên trên và lấy thanh tre xiềng thật chặt đừng cho cá nổi lên và đem phơi nắng khoảng nửa tháng. Sau 6 tháng thì dùng được, nhưng để càng lâu càng ngon. Trước khi đem ra dùng, người ta mang thính trộn vào. Mắm màu tái, mùi khẳng, vị mặn gấp... tất cả đều cảm giác mạnh kích thích. Mắm prôhôc để lâu (một năm trở lên) ăn sống, kèm với khế, chuối chát, rau sống; hoặc bầm với xả ớt, ăn với cơm nguội; rất ngon.
Loại mắm này, nếu được làm bằng cá trê vàng, gọi là "Prôchôc ôp", trở thành món ăn nổi tiếng Sóc Trăng. Người Khmer còn chế biến một loại mắm chua gọi "prôot", làm bằng tép mồng, một loại tép rất dễ kiếm ở đồng ruộng, khi trộn với đu đủ, riềng hoặc gừng non sau vài ngày thì ăn được. Cá lốc, cá trê nướng mà chấm với mắm này thì "ăn ngon hết chổ chê".
Ngoài việc sử dụng gia vị như hành, ớt, tiêu, tỏi, người Khmer hay dùng mắm prôhôc làm gia vị chính để nêm nếm, đặc biệt là các món ăn "samlo" (canh), nước lèo. Bây giờ, bún nước lèo Sóc Trăng đã lan rộng trong và ngoài tỉnh, đã xuất hiện trong giai thoại làng văn nghệ, đã trở thành sự nhắc nhở thân tình và bạn bè gần xa; "nhứ ghé Sóc Trăng ăn bún nước lèo và mang về quà mắm ốp Phú Tâm (huyện Mỹ Tú, Sóc Trăng).
Bên cạnh làng nghề trồng lúa, người Khmer huyện Vĩnh Châu rất nổi tiếng về trồng củ cải và làm cải muối mà họ thường gọi là "chhay pâu", được người trong và ngoài tỉnh đến đặt hàng.
Với loại thực phẩm trên, bữa cơm hằng ngày của người Khmer là cơm, canh, rau, nhưng vào mùa vụ đông ken, bữa ăn của họ rất sơ sài: chỉ một tô prôhôc chưng dưa leo, hoặc cọng bông súng hay bông lục bình... hoặc một đĩa prôhôc bầm xả ớt, gói ăn theo. Nhưng ở buổi tiệc tùng, đám phước, đám giỗ, tết cổ truyền, họ tổ chức ăn uống đãi khách, giống như người Việt, người Hoa, những món ăn hằng ngày, họ không bao giờ đem ra đãi khách, vì họ cho là thiếu tôn trọng. Thức ăn chế biến trong dịp này là thịt gia súc, gia cầm tự sản xuất hoặc mua, với nhiều món ăn khá phong phú, như: cù lao, càri, thịt kho nước dừa, bún nước lèo...
Từ gạo nếp, người Khmer còn chế biến nhiều loại bánh mặn, bánh ngọt, như bánh tét, bánh ít, bánh tổ chim... đặc biệt là loại bánh mang tính đặc thù của văn hóa dân tộc, như bánh gừng, cốm dẹp. Bánh gừng là loại bánh được chế biến từ bột nếp với hột gà, có hình dáng giống như củ gừng, nên người ta gọi đó là bánh gừng (num khnhây). Sau khi được chiên với mỡ đã chín, họ còn rắc lên bánh một lớp đường cát trắng lấp lánh, trông rất đẹp. Bánh này là lễ vật không thể thiếu trong các lễ cưới truyền thống Khmer, biểu trưng cho hạnh phúc của lứa đôi. Người ta cũng có thể làm bánh này loại nhỏ dùng làm quà cáp hoặc đãi khách.
Cốm đẹp được làm từ nếp rang, đâm dẹp, nhưng phải là nếp mới nghĩa là nếp mới chín đỏ đuôi, mới cắt từ cánh đồng mang về. Dụng cụ chính là một nồi đất to, miệng rộng, một chiếc cối bồng. Cối này có dáng thon đứng, được khoét lồng từ một khúc gỗ, chiều cao khoảng 1m và đâm bằng chày đứng. Khi nếp được rang chín đều, có tiếng nổ lách tách, tức là ruột nếp đã chín, nổ pháp tung vỏ ra, người ta bưng nguyên mẻ đổ vào cối để giã, thường là giã đôi: một người, một tay cầm chảy, một tay cầm cây gạt, trộn cho nếp nổi lên đều. Do nếp còn tươi nên thoạt đầu bị giã, hạt nếp bẹp ra dính từng đề. Và cứ như thế, người ta giã cho đến khi hạt nếp khô lên, rời rã; họ sẽ đổ ra nia. dùng sàng sẩy bỏ trấu trắng đục, điểm lác đác những hạt màu xanh. Cơm đẹp trộn với đường, dừa ăn thơm ngon, hoặc ăn với chuối chín muồi. Nó là lễ vật không thể thiếu trong lễ hội Oc-om-bôc, cúng Trăng. Ngày nay, vào dịp lễ hội Oc-om-bôc, khách mới về Sóc Trăng dự Hội đua ghe ngo, được Ban tổ chức tặng một gói quà lưu niệm có ý nghĩa: đó là cơm dẹp (Om-bôc), trộn sẵn với đường, dừa.
Thức uống của người Khmer Sóc Trăng phổ biến là nước mưa chứa vào lu, tích lại trong mùa mưa, dùng để uống cả năm; hoặc nước trà dùng cho người già và để tiếp khách trong các lễ lộc, tiệc tùng, đãi khách, người Khmer thường dùng rựu trắng hoặc rượu ngâm thuốc, được nấu từ gạo; nhưng rượu không được dùng trong chùa, vì đây là điều giới cấm.
Người Khmer vốn có trí thông minh rất nhạy cảm trong việc tiếp thu cái mới, mọi cách làm ăn, mọi hình thái văn hóa của các dân tộc anh em; song, do hạn chế về trình độ, họ tiếp thu một cách không ồ ạt không chọn lọc, nên dễ chịu ảnh hưởng nền văn hóa của các dân tộc anh em: một số thanh niên hiện nay quên cả tiếng nói và thuần phong mỹ tục của dân tộc mình, thậm chí đàn bà con gái không còn mặc áo "bom-pong" hay "xa-rong", một loại áo truyền thống dân tộc. Nếu phải mặc như vậy, họ cảm thấy xấu hổ. Cũng tương tự như thế, trong ăn uống, họ cũng cảm thấy xấu hổ mỗi khi người anh em dân tộc khác nói: "Anh ăn prôhốc", vị họ nghĩ rằng, người ấy nói họ ăn đồ "dơ dáy bẩn thỉu". Thật là có lý khi ai đó cho rằng: "hình dáng, hương vị của những món ăn dân tộc, gợi cho ta nhớ về cội nguồn, về quê hương xứ sở".
Lối sống biến đổi theo lịch sử và hệ thống dinh dưỡng của các dân tộc khác nhau được quy định, không chỉ bởi các điều kiện địa lý, truyền thống của dân tộc mà về mặt xã hội. Còn bởi mức độ phát triển sản xuất. Với tinh thần nghị quyết Trung ương khóa 5 về "xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà văn hóa ẩm thực của người Khmer Sóc Trăng có nhiều điều kiện được bảo tồn và phát triển.
Nghề rèn - sự “tài hoa và khéo léo” của người Mông ở Yên Bái
Cũng như cộng đồng các cư dân nông nghiệp khác, đồng bào dân tộc Mông ở Yên Bái cũng có nhiều nghề truyền thống mang nét văn hóa độc đáo đặc trưng cho dân tộc như nghề chế tác nhạc cụ (khèn bè, khèn môi), nghề nhuộm chàm, thêu dệt thổ cẩm, nghề đan lát các dụng cụ sinh hoạt và nghề rèn đúc nông cụ. Trong đó, nghề rèn nhằm tạo ra các công cụ sản xuất, công cụ lao động của dân tộc Mông đã được rất nhiều người biết đến với những sản phẩm như con dao, chiếc xẻng, lưỡi cày hay chiếc cuốc.
Công việc đầu tiên của người thợ rèn là chuẩn bị than đốt và đắp lò. Lò được đắp bằng đất, mặt lò võng xuống để có thể cho than vào. Than để đốt không phải là than đá mà được đốt bằng than của một loại gỗ ở rừng.
Làm rèn phải theo một quy trình và cần có hai người, một người kéo bơm gió (tiếng mông là pu) để than trong lò cháy đều cung cấp nhiệt cho quá trình rèn và một người rèn.
Khi rèn, người ta cho sắt vào nung đỏ, đưa ra để lên đe dùng búa đập, sắt nguội lại cho vào lò nung, cứ như vậy đến khi tạo ra được sản phẩm vừa ý. Sau khi tạo xong dáng của sản phẩm thì tiến hành tôi sắt. Trong khâu tôi sắt của người Mông có một “bí quyết” riêng để tạo nên những sản phẩm nông cụ truyền thống có chất lượng cao, đó là khả năng nhìn màu sắt để đưa vào tôi. Người Mông có nhiều cách tôi sắt khác nhau, có loại sắt thì tôi bằng nước có bỏ một lượng muối vừa phải; có loại thì tôi bằng thân cây chuối và cũng có thể là bằng dầu nhớt. Người Mông cho rằng, phải biết cách xem loại sắt để chọn cách tôi, như thế thì dao mới sắc và bền.
Sau khi tôi xong là đến giai đoạn mài dao. Trước đây, người Mông thường mài dao bằng đá suối nhưng ngày nay với sự tiến bộ, ngoài việc sử dụng đá suối thì người Mông đã mua máy mài để sử dụng. Dao, cuốc và cày của người Mông làm ra được coi như một công cụ quý vì nó đạt tới độ bền cao lại rất sắc.
Từ xưa người Mông vẫn nổi tiếng với kỹ thuật cày trên đất dốc. Lưỡi cày hay lưỡi cuốc được người Mông tự đúc bằng kỹ thuật thủ công, chất lượng đạt tới độ tuyệt hảo bởi khi tôi lưỡi cày và cuốc được tăng rất nhiều thành phần thép. Do vậy lưỡi cày, cuốc của người Mông làm ra vừa cứng vừa dẻo đảm bảo lật đất tốt, xén đứt hết rễ cây, gốc cỏ mà không bị gãy. Thực tế cho thấy, tầng đất mặt của ruộng bậc thang khi mới khai phá sỏi đá còn nhiều, gốc cây chưa đứt hết, mặt ruộng mấp mô thì chỉ loại lưỡi cày này mới khắc phục được những khó khăn trong việc canh tác.
Nghề rèn truyền thống của người Mông đòi hỏi sự tài hoa, khéo léo của đôi bàn tay con người. Cao hơn nữa là sự kiên trì và sáng tạo của người thợ rèn để có thể cho ra lò những sản phẩm tinh xảo vừa có giá trị làm vật dụng vừa thể hiện bản sắc văn hóa truyền thống độc đáo riêng của dân tộc Mông.
Tuy nhiên, hiện nay do điều kiện phát triển, nhiều sản phẩm do công nghiệp sản xuất giá rất rẻ nên nghề rèn truyền thống của người Mông ở Yên Bái hiện nay đã và đang dần bị mai một. Lò rèn thủ công của các gia đình người Mông nay đã không còn được đưa vào sử dụng. Nhiều bản Mông ở Yên Bái trước đây nhà nào cũng có lò rèn nhưng giờ chỉ còn vài nhà sử dụng. Khôi phục, bảo tồn và phát huy, phát triển nghề rèn truyền thống của người Mông là một việc làm hết sức cấp bách đang đặt ra, bởi nó không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế xã hội mà còn góp phần gìn giữ bản sắc văn hoá độc đáo riêng của dân tộc. Và đó cũng chính là trăn trở và mong ước của những người muốn “giữ lửa” cho nghề rèn truyền thống của dân tộc hôm nay.
Ấm nồng làn điệu dân ca Cor
Từ lâu, các làn điệu dân ca đã đóng một phần quan trọng trong đời sống của bà con dân tộc Cor nói chung và người Cor ở huyện miền núi Trà My, tỉnh Quảng
Clu là một điệu dân ca của người Cor có từ lâu đời. Trong lễ hội truyền thống như: Lễ ăn mừng lúa mới (Xa-pa-nưu), Lễ ăn mừng nhà mới (Xa-như-ra-vát), Lễ hội ăn trâu huê (Xa-ố-piêu), Tết mùa (Xa-a-ní)... không thể thiếu làn điệu dân ca vào loại độc đáo này với lối diễn xướng vừa hát Clu vừa cúng. Clu còn được người Cor sử dụng trong các dịp cúng trâu, heo, cúng gà để cầu đất, cầu trời phù hộ mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, gia đình khoẻ mạnh, dân làng đoàn kết...
Theo truyền thống, Clu chỉ được người Cor sử dụng trong nghi thức cúng tế là chính. Làn điệu Clu mang dáng dấp của một bài văn tế thể hiện tấm lòng thành của gia đình đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ - những người đã khuất.
Nội dung Clu, ngoài ý nghĩa mời gọi tổ tiên, ông bà, cha mẹ, ma tốt về chứng giám cho lòng thành của con cháu, còn thể hiện sự cầu khẩn thần linh hoặc người đã khuất bỏ qua nhưng sai sót, lỗi lầm của người còn sống, phù hộ cho cá nhân, gia đình, cộng đồng được khoẻ mạnh, an lành trong cuộc sống.
Trong lễ hội đâm trâu, từ khi người Cor bắt đầu nấu rượu làm bánh, người ta đem trâu vào cột ở cây nêu để chuẩn bị cho lễ đâm trâu và cả trong lúc đâm trâu thì một nhóm già làng từ hai đến sáu người vẫn hát Clu. Có thể nói, Clu là một loại hình hát kể về những câu chuyện, những bài học quý, nhằm giáo dục con người làm những điều thiện và tốt đẹp trong cuộc sống.
Người Cor còn có hình thức hát đối đáp gọi là A giới, gần giống như hát hò khoan của người Kinh, giống hát lý của người Cơtu. Đây là loại hình hát ứng đáp tại chỗ với nội dung thường là động viên nhau trong lao động và sản xuất, dạm hỏi vợ chồng, thông gia hát đối đáp với nhau để thăm hỏi sức khoẻ, công việc đồng áng nương rẫy... Thường chỉ có nam giới tham gia hát A giới, đôi khi cuộc hát đối đáp kéo dài cả đêm tới tận gà gáy mới kết thúc. Người hát phải ứng khẩu, diễn đạt tốt những lời hay ý đẹp.
Nếu như làn điệu Clu được sử dụng trong các lễ cúng thì làn điệu Xadru được sử dụng trong cuộc sống hằng ngày. Cả nam và nữ đều có thể hát Xadru trong dịp làng tổ chức lễ hội truyền thống, họ cùng hát chung cả nóc với phần đệm của các nhạc cụ truyền thống.
Khác với A giới, hát A ly là hình thức hát đối đáp giữa nam và nữ với nhau. Thường nội dung hát A ly đề cập đến tình yêu đôi lứa nam nữ.
Bánh gio, món ngon của người Sán Chay (Thái Nguyên)
Bánh gio là thứ không thể thiếu vào dịp cúng Tết mùng 5-5 của người Sán Chay. Nguyên liệu để làm bánh là gạo nếp, nước gio và lá chít. Thứ gạo nếp chọn làm bánh phải là thứ nếp nương, 10 hạt như cả mười. Gạo ấy được những người phụ nữ Sán Chay nhặt hết hạt đen hạt kẹ, đãi sạch rồi đem ngâm vào nước gio cho mềm. Nước gio để ngâm gạo được đốt từ vỏ đỗ, vỏ bưởi, vỏ mít và cây ngô đồng để tạo ra mùi vị đặc biệt. Sau khi ngâm gạo trong nước gio đến độ mềm vừa phải, người ta vớt gạo ra, lấy lá chít gói thành bánh rồi đem luộc, để nguội mới ăn được. Lá chít đem luộc thật kỹ và thay nước nhiều lần cho phai hết chất diệp lục. Mỗi chiếc bánh gio chỉ cần dùng 2 hoặc 3 chiếc lá chít. Gạo nếp đã ngâm nước nắng lên màu hổ phách được vớt lên cho ráo nước. Dùng muôi xúc gạo đó cho vào giữa lá chít đã rửa sạch lau khô, dàn gạo đều và dài ra, gói lại lăn tròn vấn bẻ hai đầu lá kín lại dùng lạt mềm buộc chặt. Mỗi cái bánh gio chỉ dài chừng hơn gang tay đường kính nhỉnh hơn ruột quả chuối tiêu nên chỉ cần luộc ba giờ đồng hồ bánh đã rền. Bánh để nguội bóc cắt ra từng khoanh, nhìn thấu qua trong suốt màu sáp ong đã thấy ngon, đem chấm cùng mật giọt càng hấp dẫn. Ruột bánh trong suốt, không mùi vị, vẫn còn nhìn thấy lơ mơ hình những hạt gạo đã biến hình hài như chưa hoà tan hết vào kiếp khác. Nó là gạo nếp nhưng không phải còn rõ ràng như bánh chưng, mà cũng không là một khối bột chín như ruột bánh xu xê, bánh nếp, bánh giò. Bóc hết lớp lá chít dẻo dai, đưa lên miệng, mùi bánh nồng nồng, hăng hăng, nhưng khi chấm với mật nếm thử lại thấy ngon lạ lùng, ngọt và dịu mát nơi đầu lưỡi. Mặc dù làm bằng gạo nếp nhưng bánh gio có thể ăn no mà không thấy ngán. Ngày Tết Đoan ngọ 5 - 5 người Sán Chay dùng bánh gio để cúng ông bà tổ tiên. Bánh được cắt ra từng khoanh cho vào bát riêng lẻ, bên cạnh để chén mật sóng sánh, đặt lên ban thờ mời gọi ông bà về hưởng Tết. |