Hiển thị các bài đăng có nhãn người Tày. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn người Tày. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 23 tháng 12, 2009

Hoa văn trên trang phục của người Tày


Trang phục cô gái Tày

Trang Phục của người Tày đơn giản một sắc chàm, nét đặc sắc thể hiện ở những mẫu hoa văn trên vải của họ. Loại vải dệt hoa văn mầu đen trên nền vải trắng là loại vải để may mặt chăn, loại hình trang trí này phổ biến trong các dân tộc nói ngôn ngữ Tày-Thái, mà người ta còn dùng một thuật ngữ để gọi đồ án trang trí hoa văn như thế này là lái ăm - có nghĩa là vằn đồ đan, giống như các vằn nổi trên đồ đan. Họa tiết được kỷ hà hóa là chính để thích hợp với việc dệt trên khung dệt. Bố cục họa tiết theo phương pháp ô quả trám có các đường viền xung quanh tạo thành các đường diềm gãy khác. Trong các ô quả trám là họa tiết cách điệu hóa hình họa, hình ngọn rau bầu, bí, là loại cây có liên quan nhiều đến nền văn hóa cổ, tín ngưỡng cổ của nhiều cư dân nông nghiệp ở phía Bắc nước ta, trong đó có người Tày. Các dân tộc Thái, Lào, Lự ở nước ta phát triển loại hình trang trí này rất đa dạng, phong phú.

Trên cơ sở của loại bố cục hoa văn một mầu đen trên nền trắng như thế này, người Tày lại phát triển trang trí theo một hướng khác, gài mầu vào từng đoạn họa tiết, từng mảng họa tiết tùy trình độ thẩm mỹ, ý thích của người dệt trên khung dệt thủ công, có tên gọi là thổ cẩm, mang ý nghĩa là một loại gấm của địa phương.

Thổ cẩm có loại hình vuông để may mặt địu, có thể thức bố cục hoa văn đăng đối tuyệt đối, bao gồm những diềm và hoa văn bỏ ô ở khu vực trung tâm trang trí. Ngoài ô quả trám đã xuất hiện các biến thể như ô hình tám cạnh, hình vuông, hình chữ nhật, tạo cho đồ án trang trí có đường nét cấu tạo phong phú hơn, đa dạng hơn.

Có loại thổ cẩm bố cục hình chữ nhật để làm mặt chăn, màn che. Những tấm màn che mà vị trí là ở các nơi thờ cúng tổ tiên, người ta thể hiện các đề tài liên quan đến tín ngưỡng tôn giáo, như thêm đường diềm ở phía trên - tương ứng với cõi Trời, có hình các vị thần linh, bảo hộ cho sự sống bình an của con người hoặc thêm đường diềm ở phía dưới - tương ứng với cõi Đất, có hình con ngựa, con chim là những hình tượng biểu trưng cho cuộc sống, cỏ cây, muông thú trên mặt đất như quan niệm về vũ trụ của dân gian. Ngoài ra, còn có nhiều họa tiết khác nữa, như các chữ Hán-theo kiểu chữ triện, hồi văn phật giáo-chữ Vạn, Hoa đào, Hoa cúc cách điệu, hình mặt trời, ngôi sao tám cánh v.v.

Mầu sắc rực rỡ, sự phối hợp các màu nguyên sắc có độ tương phản cao bên nhau khá mạnh bạo. Có những hòa sắc trầm, dịu, hoặc sáng tươi, các sắc thái khác nhau cho thấy thổ cẩm Tày không gò bó trong quy thức hòa màu hạn chế nào, cho thấy sức sáng tạo phong phú và đa dạng của nghệ nhân nhiều thế hệ, đó cũng là những dấu ấn của sự phát triển trong trang trí dệt dân gian của người Tày để đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống ngày một đa dạng phong phú, về các mặt văn hóa tinh thần và vật chất của dân tộc.

Bố cục hình vuông của thổ cẩm, bố cục hình chữ nhật của loại thổ cẩm làm mặt chăn hoặc màn che có quy định phía trên phía dưới - là những bố cục riêng có trong trang trí dệt của người Tày, mà các dân tộc anh em không có.

(Cinet-Tổng hợp)

Khúc hát ru của người Tày (Bắc Giang)

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có khoảng 30 nghìn người dân tộc Tày sinh sống chủ yếu ở huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Yên Thế và Lục Nam. Người Tày có rất nhiều bài hát ru nhẹ nhàng, êm ái thể hiện đời sống văn hoá, tinh thần phong phú, trong đó bài Ứ noọng nòn là điển hình.


Bài hát ru Ứ noọng nòn của người Tày mang đặc trưng của thể loại hát ru nói chung, với kết cấu kể chuyện bâng quơ, mẩu chuyện nối, đứt đoạn mà miên man, phù hợp với chức năng ru trẻ ngủ và với lối hát lặp lại nhiều vòng, nhiều đợt. Điểm dừng và cũng là điểm nối của bài hát là lời ru, lời đưa đẩy. Bài hát bắt đầu bằng lời ru như tất cả các làn điệu ru khác, sau đó là những câu dỗ dành: Ứ noọng nòn/Nòn đắc noọng nòn đí/Nòn tắng pí au qua/Nòn tắng a au luổm/Luổm lầu đảy sloong boóc/Nốc choóc đảy sloong tua (Ư em ngủ/ Ngủ say em ngủ ngoan/Ngủ đợi chị lấy dưa/Ngủ đợi cô bắt muỗm/Muỗm to được hai ống/Chim sẻ được hai con). Các câu trên có vẻ thống nhất về chủ đề dù kể chuyện miên man nhưng các câu sau thì chuyển hẳn sang mạch khác một cách tự nhiên với sự kết nối chặt chẽ: câu trước dùng từ con, các câu sau tiếp tục nhắc lại từ này nhưng lại kể một câu chuyện khác - câu chuyện của một lũ trẻ chứ không liên quan gì tới đối tượng con chim sẻ ở câu trước: Tua nâng pây mí ỏm/Tua nâng gây nhọm mây/Tua nâng pây đăng phầy thả mẻ/Tua nâng là quạnh quẻ dú đai/Tua nâng pây au vài mà lảng/Tua nâng oóc pác táng slon slư/Tua nâng pây vây ứ... (Một con đi giặt tã /Một con đi nhuộm chỉ/Một con đi nhóm bếp đợi mẹ/Một con chơi chẳng làm gì/Một con đi lùa trâu về chuồng/Một con đi đưa nôi). Bài hát dắt trẻ vào giấc ngủ, trẻ nhỏ thiếp đi trong giọng điệu du dương, đều đều; trẻ lớn biết nghe thiếp đi trong sự dắt dẫn của những hình ảnh chắp nối nhưng đa dạng, lãng mạn của lời ru. Những câu hát nhẹ nhàng, êm ái, lắng đọng, tưởng như kể chuyện bâng quơ ấy lại hàm chứa một cách tự nhiên đời sống văn hóa sinh hoạt của người Tày xưa. Cuộc sống của người Tày hiện lên, trước hết là mô hình gia đình đông con nhiều cháu. Theo sự liệt kê trong bài có đến 8 "con" làm các công việc khác nhau: con giặt tã, con nhuộm chỉ, con nhóm bếp, con chơi, con chăn trâu, con học bài, con đưa nôi, còn một con nằm trong nôi.

Bài hát ru chỉ là khúc ca ngắn nhưng thể hiện sinh động công việc của người Tày từ xa xưa như: làm nương rẫy, trồng cây dưa xen cây lúa, se sợi kéo chỉ, nhuộm chàm, chăn nuôi gia súc... Hình ảnh con người trong bài hát là con người lao động và bài hát ru ở đây cũng là khúc hát ca ngợi người lao động.

Những phong tục đẹp trong đám cưới truyền thống người Tày, Tuyên Quang


Nghi lễ cưới truyền thống của người Tày Nà Hang gồm: lễ “thông tin”, lễ "khớp số", lễ "ăn hỏi", lễ “mjều mác”, lễ “khát cằm”, lễ “nhăm phạc lườn".


Lễ “thông tin” giống như lễ dạm hỏi, đại diện nhà trai mang rượu sang nhà gái để thưa chuyện với gia đình nhà gái. Lễ "khớp số", hay còn gọi là lễ “khả cáy”, nhà trai mang rượu, gà sang nhà gái. Trong lễ này, nhà gái mổ gà để xem chân gà, khớp số mệnh cho đôi trai gái. Lễ "ăn hỏi", nhà trai mang rượu, đôi gà trống thiến, bánh dầy, bánh chưng, gạo... đến nhà gái để hỏi xin cưới. Lễ “mjều mác” tức là lễ trầu cau, là lễ to nhất trước khi cưới. Trong lễ này, nhà gái tổ chức ăn uống, đãi anh em hàng xóm. Lễ “khát cằm”, còn gọi là lễ thách cưới, đại diện hai nhà trao đổi với nhau về những lễ vật nhà trai phải mang đến nhà gái trong đám cưới.


Ngoài ra, khi không được năm tuổi kết hôn, người Tày còn lễ “nhăm phạc lườn”, tức là lễ đón dâu lên nhà trước. Trong lễ này, cô dâu chưa được ra mắt tổ tiên, mà chỉ được đón đến trình họ hàng nhà trai. Sau lễ “nhăm phạc lườn”, đôi trai gái được tự do đi lại với nhau, chờ năm cưới.


Trong đám cưới truyền thống của người Tày còn có một nét văn hoá độc đáo, đặc sắc khác, đó là hát Quan làng để xin dâu. Để xin được dâu, Quan làng giao thiệp bằng những lời ca tế nhị, đằm thắm làm ấm bụng họ hàng cô dâu, để họ đồng ý cho rước dâu. Những thử thách của họ nhà gái thường mang ý nghĩa tượng trưng như “căng dây” bằng một sợi chỉ chăng ngang cửa, “giữ cửa” bằng cách nhốt con chó đặt ở sàn nhà, một chiếc đòn gánh đặt ngang lối đi... Những vật đó bỗng trở thành “chướng ngại vật kiên cố” ở trước mặt đoàn nhà trai. Quan làng lần lượt cất tiếng hát mà phải hát hay, hát đối đáp nhanh hơn nhà gái. Lời hát Quan làng có khi được truyền miệng từ đời này sang đời khác nhưng cũng có câu hát phải ứng tác kịp thời. Có nhiều đám cưới trở thành đám thi hát. Hát trôi chảy thì được “cắt dây”, “vào cổng”, “lên nhà” có chiếu ngồi. Không hát được thì phải chờ đợi phạt uống rượu thay lời hát. Hai họ vừa là công chúng thưởng thức vừa là người xét thưởng, phạt. Những việc đó diễn ra sôi nổi hào hứng, náo nhiệt. Ông Quan làng phải vượt qua bao cửa ải mới rước được cô dâu về nhà chồng.


Người con gái Tày đi lấy chồng mang theo nhiều của hồi môn đựng trong những chiếc “loỏng” sơn màu sặc sỡ. Phần lớn của hồi môn là vải vóc, chăn màn do cô gái tự dệt và may lấy. Số vải vóc này đủ dùng cho một đời người.


Tới nhà trai, cô dâu, chú rể vào lễ công báo trước bàn thờ gia tiên họ nội. Chú rể và cô dâu chắp tay vái tổ tiên, uống chén rượu thề chung thuỷ trăm năm rồi được ông bà đưa đón vào buồng hạnh phúc.

Hiện nay, các địa bàn như có nhiều người Tày sinh sống như xã Thượng Lâm, Lăng Can, Khuôn Hà... vẫn còn lưu giữ truyền thống hát Quan làng đón dâu. Đây là một trong những nét văn hoá độc đáo, đặc sắc cần lưu giữ để thế hệ trẻ biết nguồn biết cội.